Liên kết Website
Nghiên cứu, chuyên đề
 
Một số điểm mới về xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP

Ngày 24/9/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định số 110 có phạm vi điều chỉnh rộng, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong 05 lĩnh vực, gồm: bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định gồm 08 chương, 75 điều, có những điểm mới sau:


1. Quy định rõ các tổ chức, cá nhân là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính

* Đối với tổ chức thuộc đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính của Nghị định 110 quy định trong từng lĩnh vực, cụ thể:

- Trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt bao gồm: các tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; trung tâm tư vấn pháp luật; văn phòng giám định tư pháp; tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp; trung tâm trọng tài, tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;

- Trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt bao gồm: trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; văn phòng con nuôi nước ngoài; tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; cơ quan Trung ương của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị trực thuộc của các tổ chức này thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật với cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài;

- Trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt chính là các doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phá sản.

Đồng thời, Nghị định cũng quy định: cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao và các tổ chức khác không phải là cơ quan nhà nước vi phạm hành chính cũng là đối tượng bị xử phạt của Nghị định.

* Đối với các cá nhân, Nghị định quy định cá nhân vi phạm hành chính sẽ bị xử phạt nhưng nếu cá nhân là công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao thì không bị xử phạt, mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

2. Sửa đổi, bổ sung cụ thể một số hành vi vi phạm hành chính

Nghị định số 110 sửa đổi, bổ sung nhiều hành vi mới cho phù hợp với một số luật mới ban hành và đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính, nổi bật là:

- Trong hoạt động công chứng. Nghị định đã bổ sung thêm 14 loại hành vi vi phạm hành chính mới chẳng hạn như hành vi: xác nhận không đúng thời gian công tác pháp luật, thời gian và kết quả tập sự hành nghề công chứng để đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (Điểm c Khoản 2 Điều 11); lời chứng của công chứng viên trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định của Luật Công chứng (Điểm đ Khoản 2 Điều 14)… Đặc biệt, trước dư luận thời gian vừa qua phản ánh có hiện tượng “công chứng khống” các hợp đồng, giao dịch, Nghị định đã cụ thể hóa và quy định xử phạt đối với hành vi công chứng trước vào hợp đồng, giao dịch khi chưa xác định đầy đủ các bên chủ thể của hợp đồng giao dịch đó (Khoản 6 Điều 14).

- Đối với hoạt động bán đấu giá tài sản, Nghị định đã bổ sung thêm 13 nhóm hành vi vi phạm mới, trong đó có những hành vi qua tổng kết cho thấy khá bức xúc trong thực tế nhưng không có chế tài xử phạt như hành vi: không lập biên bản hoặc ghi biên bản không đầy đủ chi tiết diễn biến của phiên đấu giá; không ghi kết quả cuộc bán đấu giá vào sổ đăng ký bán đấu giá tài sản (Điểm b Khoản 2 Điều 19); lập danh sách khống về người đăng ký mua tài sản bán đấu giá, lập hồ sơ khống, lập hồ sơ sai sự thật; thông đồng, dìm giá trong hoạt động bán đấu giá tài sản (Điểm a và Điểm b Khoản 7 Điều 19);...

- Trong hoạt động luật sư. Nghị định đã bổ sung thêm 12 loại hành vi như hành vi: làm giả chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam, giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa; mạo danh luật sư để hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào (Điểm a và Điểm bKhoản 5 Điều 6); hay hành vi vi phạm quy định về tổ chức hành nghề luật sư như: phân công luật sư hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư quá số người theo quy định của pháp luật; (Điểm b Khoản 2 Điều 7)...

Ngoài ra, trong tất cả các hoạt động thuộc các lĩnh vực trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định đều được bổ sung những hành vi vi phạm hành chính mới, bãi bỏ một số hành vi vi phạm hành chính không còn phù hợp, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính đã phát sinh và đang diễn ra trong thực tiễn.

3. Sửa đổi, bổ sung về hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

- Về hình thức xử phạt: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt của Nghị định 110 đã được quy định và phát triển dựa trên kết cấu các hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung, cụ thể:

Đối với hình phạt chính:  Nghị định số 110 cũng đã tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm cho phù hợp với quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và tình hình kinh tế xã hội của đất nước, tránh tình trạng mức phạt không tương xứng với các khoản thu từ các hợp đồng dịch vụ của các tổ chức công chứng, luật sư, tư vấn pháp luật, bán đấu giá… Nghị định số 110 cũng quy định phân biệt rõ mức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức (Điều 4), trong đó: mức phạt tiền quy định tại các chương II, III, IV, V và VI của Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân (trừ các điều 7, 8, 9, 15, 18, 21, 22, 29, 44, 51, 58, 59, 60, 62 và 63 được áp dụng đối với tổ chức) và trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Đồng thời, đề cao tính nghiêm khắc và răn đe của pháp luật, Nghị định cũng quy định trong một số trường hợp sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt chính là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ, thẻ có thời hạn từ 06 tháng đến 24 tháng.

Việc quy định các hình thức xử phạt chính như trên bảo đảm tính bình đẳng giữa các tổ chức với tổ chức, cá nhân với cá nhân hoạt động trong cùng một lĩnh vực đồng thời bảo đảm tính răn đe đối với các tổ chức, cá nhân là đối tượng bị xử phạt. Qua đó tác động tích cực đối với việc bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của những công dân tham gia vào hoạt động tư pháp, góp phần mang lại hiệu quả ngày càng cao đối với lĩnh vực tư pháp, là hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật nghiêm minh.

Đối với hình phạt bổ sung: Hình thức xử phạt bổ sung được quy định Nghị định như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ, thẻ có thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng, bãi bỏ các hình thức tước giấy phép, chứng chỉ không thời hạn để phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính. Một số hình thức xử phạt bổ sung như: hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã thực hiện; tịch thu giấy tờ, tài liệu v.v.. cũng đã được loại bỏ và điều chỉnh thành các biện pháp khắc phục hậu quả phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Về biện pháp khắc phục hậu quả:  Nghị định 110 đã bổ sung một số biện pháp khắc phục hậu quả cho phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính như: hủy bỏ kết quả bán đấu giá tài sản, hủy bỏ giấy tờ giả... Đồng thời, để bảo đảm tính pháp chế, phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan, Nghị định 110 quy định đối với một số biện pháp khắc phục hậu quả mà người có thẩm quyền xử phạt không có thẩm quyền thực hiện thì kiến nghị người có thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện.

4. Quy định cụ thể về những người có thẩm quyền và trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính

Nghị định số 110 đã quy định cụ thể về những người có thẩm quyền và trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính, gồm 02 nhóm: người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Nghị định mà đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và công chức, viên chức đang thi hành công vụ, nhiệm vụ cũng có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Nghị định cũng quy định cụ thể từng lĩnh vực mà người có thẩm quyền lập biên bản vừa theo cấp hành chính từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và tới cấp trung ương lại vừa theo lĩnh vực quản lý ngành (Điều 65).

Quy định cụ thể về những người có thẩm quyền và trách nhiệm lập biên bản vi phạm hành chính nhằm bảo đảm nguyên tắc mọi vi phạm hành chính được phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời qua đó bảo đảm tính khả thi của Nghị định. Đồng thời, việc giới hạn người có thẩm quyền lập biên bản là công chức, viên chức đang thi hành công vụ, nhiệm vụ còn có ưu điểm là tránh được khả năng lập biên bản vi phạm hành chính tràn lan, thuận tiện cho công tác quản lý nhà nước về xử phạt vi phạm hành chính.

5. Phân định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Nghị định 110 quy định thẩm quyền xử phạt cho từng chức danh cụ thể từ Điều 66 đến Điều 70, đó là Chủ tịch Ủy ban nhân các cấp, thanh tra Bộ Tư pháp; thanh tra sở Tư pháp; Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Chi cục trưởng cơ quan thi hành án dân sự các cấp; Trưởng phòng Thi hành án dân sự cấp quân khu; chấp hành viên thi hành án dân sự; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phá sản; Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Chánh toà chuyên trách Toà án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh; Chánh toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Chánh toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao. Nghị định cũng quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp để bảo đảm phù hợp với tinh thần Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Mức phạt tiền của từng chức danh có thẩm quyền xử phạt, căn cứ thẩm quyền được quy định tại các Điều 38, 46, 48, 49, 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính và mức phạt tiền tối đa đối với từng lĩnh vực được quy định tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định đã cụ thể hóa mức phạt tiền của từng chức danh trong từng lĩnh vực có thẩm quyền xử phạt.

Thẩm quyền về mức phạt này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Trong trường hợp phạt tiền đối với tổ chức thì thẩm quyền xử phạt gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân (Điều 71). Đồng thời, căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính và quy định về quản lý nhà nước tại các văn bản pháp luật có liên quan, Điều 72 của Nghị định đã phân định rõ ràng thẩm quyền xử phạt của từng chức danh để đảm bảo phù hợp với lĩnh vực được quy định tại các Chương của Nghị định.

Nghị định 110/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/11/2013 và thay thế các nghị định: Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp; Nghị định số 87/2001/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; Nghị định số 10/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản./.

Phạm Thị Lạc - PV11

 01/10/2013