Diễn đàn trao đổi pháp luật

Áp dụng luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đảm bảo TTATGT trên địa bàn Hà Tĩnh – Kết quả và những khó khăn, vướng mắc cần khắc phục.

02/08/2017 05:44

Luật Xử lý VPHC được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2013 với rất nhiều điểm mới so với Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008). Trên lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính về an toàn giao thông đường bộ, Chính phủ, Bộ Công an đã ban hành nhiều văn bản dưới luật để triển khai thực hiện, như: Nghị định số 171/2013/NĐ-CP, Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Thông tư số 01/2016/TT-BCA của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cua CSGT; Thông tư số 02/2016/TT-BCA quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ của CSGT; Thông tư số 34/2014/TT-BCA quy định về các biểu mẫu để sử dụng khi xử phạt VPHC thuộc thẩm quyền của CAND…. Qua thực tiễn 4 năm áp dụng thực hiện Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực đảm bảo TTATGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, công tác xử lý vi phạm đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định tình hình, kiềm chế, làm giảm TNGT và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT trong nhân dân.

 

 
 Lực lượng CSGT tuần tra, kiểm soát xử lý vi phạm TTATGT

 

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an, Ban giám đốc Công an tỉnh, hàng năm, lực lượng CSGT toàn tỉnh đã triển khai quyết liệt công tác TTKS, xử lý vi phạm, tập trung ở các tuyến, địa bàn trọng điểm, xử lý nghiêm các nhóm hành vi nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ cao dẫn đến các vụ TNGT đường bộ. Từ 01/7/2013 đến tháng 6/2017, bằng các biện pháp nghiệp vụ lực lượng CSGT toàn tỉnh đã phát hiện, lập biên bản và ra quyết định xử phạt 235.335 trường hợp vi phạm vi phạm hành chính về TTATGT, nộp kho bạc nhà nước số tiền 145,9 tỷ đồng; tạm giữ 14.461 mô tô, 1.300 ô tô; tước giấy phép lái xe có thời hạn 6.308 trường hợp.

 

 
 và tuyên truyền phổ biến Luật giao thông

      

    Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành trong trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, lực lượng CSGT vẫn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc cụ thể như sau:

 

 
 Các lực lượng chức năng phối hợp tuần tra, kiểm soát đảm bảo TTATGT

         

Thứ nhất, tại điểm đ, khoản 1, Điều 3 Luật xử lý VPHC quy định: “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính”. Tuy nhiên, cho đến đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy định về tài liệu, trình tự, thủ tục chứng minh, do vậy nên trong thực tế việc chứng minh gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Đồng thời tại Điều 61 Luật xử lý vi phạm hành chính có quy định cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền được giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong trường hợp hành vi vi phạm đó quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép lái xe hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt từ 15 triệu đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30 triệu đồng trở lên đối với tổ chức.

Thực tế trong quá trình xử phạt VPHC về TTATGT, nhiều đối tượng đang lợi dụng các quy định trên, hoặc nhiều người hiểu chưa đầy đủ các quy định nên đã xảy ra tranh cãi với lực lượng CSGT, có đơn thư kiến nghị, yêu cầu được chứng minh vi phạm, được giải trình…, gây khó khăn cho lực lượng CSGT trong quá trình xử phạt. Nhưng người tham gia giao thông cũng cần nhận thức rằng đối với những hành vi vi phạm được phát hiện bằng các thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ (như tốc độ, nồng độ cồn, quá tải trọng…) thì kết quả đo đếm chính là cơ sở pháp lý để xử phạt, hay những hành vi vi phạm “quả tang”, phát hiện - trông thấy trực tiếp như chở quá số người quy định, phương tiện không có đầy đủ đèn, gương chiếu hậu… thì lực lượng chức năng có thể xử lý ngay; và chỉ những hành vi có quy định được giải trình thì người vi phạm mới có quyền giải trình chứ người có thẩm quyền không có trách nhiệm phải giải trình đối với tất cả các hành vi vi phạm.

          Thứ hai, theo quy định tại Điều 39 về thẩm quyền xử phạt trong lực lượng  Công an nhân dân quy định đối với chức danh Trưởng phòng CSGT, Trưởng công an cấp huyện chỉ được phạt tiền đến 20% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24, theo đó trong lĩnh vực vi phạm hành chính về TTATGT chỉ được phạt tối đa 8.000.000đ (tám triệu đồng). Trong khi đó Nghị định 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ hiện nay quy định mức phạt rất cao đối với nhiều hành vi vi phạm hành chính về TTATGT (như quá tải, vi phạm về nồng độ cồn…) nên quá trình áp dụng có rất nhiều trường hợp phải chuyển hồ sơ lên cấp có thẩm quyền để ra quyết định xử phạt gây khó khăn, kéo dài thời gian ban hành quyết định xử phạt.

Cũng theo quy định tại Điều 39 về thẩm quyền xử phạt trong CAND quy định: Các biện pháp khắc phục hậu quả thuộc thẩm quyền của Trưởng phòng, Trưởng công an cấp huyện, còn CBCS, đội trưởng, trạm trưởng không có thẩm quyền áp dụng biện pháp này. Tuy nhiên, trong thực tế có một số hành vi vi phạm mà mức tiền phạt thuộc thẩm quyền của CBCS, chỉ huy đội, trạm CSGT (như: xe ô tô không có đủ đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, gương chiếu hậu, thiết bị chữa cháy; không có còi; lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật…) và có quy định phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Đối với những trường hợp này, theo quy định CBCS hoặc đội trưởng, trạm trưởng CSGT được ra quyết định xử phạt nhưng lại không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, trong khi thực tế những biện pháp đó CBCS có thể áp dụng luôn để khắc phục ngay hậu quả. Đây là một vấn đề đang gây khó khăn cho lực lượng CSGT trong quá trình xử phạt, dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm có tính chất đơn giản nhưng không được khắc phục hậu quả ngay.

 

 
 Kiểm tra nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông

 

Theo chúng tôi đối với những hành vi vi phạm ít nghiêm trọng thì nên quy định thẩm quyền xử phạt của cấp nào thì cấp đó được ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả để đảm bảo hiệu quả của biện pháp xử lý.

Thứ ba, tại Điều 72 quy định về công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức VPHC không quy định hành vi vi phạm về TTATGT. Thực tế có nhiều hành vi vi phạm nguy hiểm, gây bức xúc trong dư luận như: Chở quá tải trên 100%, đi vào đường cấm, không chấp hành tín hiệu đèn, hiệu lệnh CSGT, lạng lách đánh võng… cần được công bố để nâng cao hiệu quả giáo dục, răn đe nhưng lại không được phép công bố...

Thứ tư, Điều 70 Luật Xử lý VPHC quy định: “Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt biết. Người vi phạm phải chấp hành quyết định xử phạt trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp”.

Trong thực tế việc áp dụng quy định nêu trên của lực lượng CSGT gặp nhiều  khó khăn vì với khối lượng quyết định xử phạt nhiều như hiện nay thì trong vòng 2 ngày không thể gửi hết được cho người vi phạm; hơn nữa người vi phạm trong lĩnh vực này phần lớn là lái xe chuyên nghiệp nên ít khi có mặt ở địa phương; nhiều trường hợp địa chỉ ghi trong giấy tờ khác với địa chỉ nơi cư trú thực tế… Hơn nữa, tại Điều 74 Luật xử lý VPHC còn quy định: Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định. Như vậy, nếu người vi phạm không tự nguyện đến chấp hành quyết định xử phạt thì coi như hết thời hiệu.   

          Thứ năm, theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 Luật xử lý VPHC, trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt chỉ được tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: Giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi tổ chức, cá nhân đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Trên cơ sở đó, tại điểm b, khoản 2, điều 11 Thông tư số 02/2016/TT-BCA ngày 04/01/2016 của Bộ Công an về quy trình TTKS giao thông quy định khi lập biên bản VPHC chỉ được tạm giữ 1 trong các loại giấy tờ theo thứ tự: GPLX, đăng ký xe, kiểm định, bảo hiểm… Trong nhiều trường hợp quy định này không đảm bảo cho việc xử phạt do người vi phạm cố ý bỏ giấy tờ không đến xử lý hoặc tìm cách làm lại giấy tờ (do các hành vi vi phạm quy định mức phạt tiền cao). Do đó, hiện nay số lượng hồ sơ tồn đọng khá nhiều, trong khi đó việc quy định các biện pháp cưỡng chế chấp hành quyết định xử phạt chưa thiết thực và khó áp dụng trong thực tế.

 
  Lực lượng chức năng tuần tra kiểm soát đảm bảo TTATGT ở những tuyến, địa bàn trọng điểm

        

  Với những tồn tại, bất cập như trên, chúng tôi mong muốn Bộ Công an và các ngành chức năng cần sớm có sự nghiên cứu để đề xuất sửa đổi các quy định của Luật xử lý VPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác xử lý VPHC nói chung và trong lĩnh vực xử lý vi phạm về TTATGT nói riêng; tạo thuận lợi cho CBCS trong tác nghiệp hàng ngày.

Đại tá Nguyễn Thanh Liêm - Phó giám đốc Công an tỉnh
Tags:
Tin mới hơn
Người dân cần biết
  • Thanh tra: 069.29 28 111
  • CSGT: 069.29 28 299
  • Trực ban: 069.29 26 112
  • Phòng quản lý XNC: 069.29 28 672
Thống kê
Tổng số lượt truy cập: 13001787