Tin quốc tế

Chiến tranh Việt Nam và sự trung thực của truyền thông Mỹ

20/04/2015 12:26

Bằng việc tiếp tục đưa hàng chục ngàn binh lính đến Việt Nam, bằng việc phản ánh chân thực của giới truyền thông Mỹ, lúc đó dân chúng Mỹ đi từ cảm giác phần thắng nắm trong tay đến hoang mang, cuối cùng là đảo chiều đối với chính phủ. Vượt qua ý thức hệ về chính trị, nhà báo Mỹ đã nhìn cuộc chiến dưới góc độ Con Người đầy tính nhân văn, bóc trần sự thật về cuộc chiến tranh phi nghĩa tại chiến trường Việt Nam…

      Nói về vai trò của truyền thông Mỹ, nhà nghiên cứu người Mỹ G.Sin.Lơ, cho rằng: giai cấp tư sản cầm quyền ở nước Mỹ đã “xây dựng một hệ thống thông tin lớn nhất thế giới”… nhằm mục đích “điều khiển ý thức” không chỉ trong nước mà cả trên trường quốc tế.  Năm 1950,  tổng thống Mỹ T’ru-man đã tuyên bố trong buổi lễ thành lập Ủy ban thông tin tuyên  truyền liên bang: “Chúng ta cần buộc thế giới phải nghe những gì ta nói. So với các hoạt động đối ngoại khác, nhiệm vụ đó không kém phần quan trọng… Điều đó cũng quan trọng như sức mạnh quân sự và sức mạnh kinh tế”. 

     Tuy nhiên, quyền lực của chính trị và thế lực của đồng tiền không phải lúc nào cũng chi phối trái tim, khối óc của những người làm báo chân chính nước Mỹ. Đã có một vài thời điểm, sự thật không thể che dấu, các hoạt động của Chính phủ Mỹ được giới truyền thông đưa đến cho công chúng Mỹ một bức tranh chân thực và sinh động mà cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) là một ví dụ. Đỉnh điểm của nó là Tết Mậu Thân năm 1968. 
 
Cảnh sát trưởng bắn người dân vô tội - minh chứng về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam

 

    Những hình ảnh từ cuộc chiến ở Việt Nam rất hiếm khi có trên những trang báo, truyền hình của Mỹ lúc bấy giờ. Cuộc chiến kéo dài, mọi nghi ngờ xuất hiện. Điều gì đã xảy ra bên kia bán cầu. Những nhà báo Mỹ đã đến Việt Nam, theo dõi chiến sự, đưa tin chiến sự. Tướng George ron Christmas – Chủ tịch bảo tàng thủy quân lục chiến Mỹ cho rằng: “Giới truyền thông đã đem đến một cách nhìn nhận mới đánh dấu bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam”.

    Báo chí – bao gồm báo viết, báo nói và nhất là báo hình – đã đưa chiến tranh Việt Nam đến tận nhà người dân Mỹ. George C. Herring nhận định: “Trong chừng mực Bắc Việt Nam có ý định tiến công Tết để gây ảnh hưởng đối với nước Mỹ thì họ đã thành công, vì cuộc tiến công đã tạo ra những làn sóng chấn động ngay lập tức trong toàn nước Mỹ. Những bài tường thuật trên truyền hình về các trận đánh đẫm máu ở Sài Gòn và Huế chế giễu các báo cáo đầy lạc quan của Johnson và Westmoreland hồi cuối năm 1967, làm tăng thêm sự thiếu niềm tin, và những nhà báo công khai nhạo báng điều mà Westmoreland tự cho là chiến thắng”.

    Đầu tiên là hình ảnh một lính thủy quân lục chiến Mỹ bị thương, ẩn nấp sau một thùng phi lớn, dân chúng Mỹ coi đó là hình ảnh bê bối mà họ thường thấy trên ti vi. Và, liên tiếp những hình ảnh lính Mỹ bị thương, thất trận, trả lời phỏng vấn với nội dung “muốn về nhà” đã làm chấn động truyền hình. Và những hình ảnh đó được lặp đi lặp lại trên truyền hình làm chấn động dư luận Mỹ. Đối với nhiều nhà báo, khi có mặt tại chiến trường thì thực sự họ đã sốc với những gì đã diễn ra. 

 

 

 

 

 

Hình ảnh cuộc chiến được phản ánh trên truyền thông, khiến dân chúng Mỹ phản đối các chính sách của Mỹ tại chiến tranh Việt Nam

 

    Joseph.L.Gallaway – cựu phóng viên hãng Thông tấn UPI “trong cuộc chiến tranh Việt Nam, phóng viên muốn quay phim, chụp ảnh phải có giấy phép, nhưng điều đó là không thể. Nhưng các phóng viên đã trực tiếp thực hiện trên hiện trường và có những bức hình tác động vào con tim của những người dân Mỹ”.

     Donald North – Cựu phóng viên Đài ABC “Người dân Mỹ không quan tâm kẻ thù nghĩ gì về mình, họ muốn biết tin tức về người thân của họ, tình hình cuộc chiến như thế nào”. Phóng viên John stewart olson – người đạt Giải thưởng Robert cap năm 1968 là tác giả của bức hình Cảnh sát trưởng Mỹ lạnh lùng giết chết dân thường. Theo đánh giá của Ellesworth Bunker – Cựu đại sứ Mỹ tại Sài Gòn: “Chụp được hình ảnh đó chính là phóng viên đã nắm bắt được sự thật của cuộc chiến”. 

    Và, liên tiếp sau đó hình ảnh nhiều xác chết phủ đầy đường trong các bản tin về chiến sự tại Việt Nam, lúc đó câu chuyện trên tivi liên tiếp là những câu chuyện buồn. Trưởng ban biên tập đài NBC, Ronald Steinman cho rằng: Cuộc chiến đi vào phòng khách của người dân Mỹ kèm theo tiếng nổ lớn lần đầu tiên được thể hiện sống động trên tivi.

    Bên cạnh những hình sinh động, chân thực từ cuộc chiến, báo chí Mỹ lúc đó phản ánh suy nghĩ của đa số người Mỹ về cuộc chiến tranh mà chính phủ của họ đang tiến hành ở Việt Nam:“Nhân dân Mỹ sẽ phải sẵn sàng để thừa nhận viễn cảnh theo đó toàn bộ nỗ lực của Mỹ ở Việt Nam có thể sẽ thất bại” (Báo Wall Street Journal). “Chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là không thể thắng được. Chiến tranh ấy càng kéo dài thì người Mỹ càng chịu tổn thất và nhục nhã” (nhà báo Joseph Kraft). “Một chiến lược tiếp tục làm như cũ là điều không thể tha thứ được” (Tuần báo Newsweek). Nhà báo nổi tiếng của hãng CBS, Walter Cronkite, đề nghị: “Cách hợp lí duy nhất để thoát ra khỏi chiến tranh Việt Nam là thương thuyết, không phải với tư cách những người chiến thắng, mà như những người chính trực làm điều tốt nhất họ có thể làm”.

 

 

 

Lính Mỹ sẵn sàng tàn sát người dân vô tội

 

    Ngày 1/2/1968, hình ảnh tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn bị tấn công được đăng trên trang nhất tờ New York Times đã làm bàng hoàng cả nước Mỹ. Lần đầu tiên sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, người Mỹ lại được nhìn hình ảnh chiến tranh gần và nóng bỏng đến như vậy. Ngày 27/2/1968, khi tướng Eagle G.Wheeler - Tham mưu trưởng liên quân - trở về sau chuyến thị sát ở Nam Việt Nam với bản đề nghị tăng thêm 206.756 quân Mỹ thì dưới con mắt nhiều người, đây là bằng chứng rõ nhất về sự phá sản của chiến lược quân sự của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Cũng trong buổi chiều ngày 27/2/1968, phóng viên nổi tiếng của đài truyền hình CBS Walter Cronkite - nhân vật được đánh giá là chủ chốt của truyền hình Mỹ thời đó - nói với khán giả: "Chúng ta đã bị thất vọng nhiều lần bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, ở cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ, để còn có thể tin tưởng vào những lời tuyên bố lạc quan của họ… Bởi vì lúc này hơn lúc nào hết, càng ngày người ta càng thấy rõ rằng kinh nghiệm đẫm máu ở Việt Nam sẽ chỉ đưa đến một tình trạng bế tắc. Nói rằng chúng ta bị mắc vào tình trạng bế tắc là một kết luận thực tiễn, mặc dù nó không làm cho chúng ta vui lòng".

    Tâm trạng thất vọng này tiên đoán một sự thất bại "Bây giờ càng rõ ràng hơn bao giờ hết là cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam sẽ đi vào ngõ cụt. Trong mùa hè này sự bế tắc chắc chắn sẽ chấm dứt qua các cuộc đàm phán cân bằng hoặc kết thúc bằng sự leo thang chiến tranh khủng khiếp, và với bất cứ phương tiện nào mà chúng ta leo thang, kẻ thù đều có thể đánh trả tương xứng". 

 

 

 

 

Những hình ảnh tố cáo tội ác của Mỹ được chính truyền thông Mỹ tố cáo chính phủ

 

    Những điều phóng viên CBS W.Cronkite nói (khi ảnh hưởng của ông ta đang ở đỉnh cao) đã làm chấn động không chỉ Nhà trắng mà cả công luận Mỹ. Ngay cả những người đã từng ủng hộ mạnh mẽ chính sách chiến tranh của Tổng thống L.B. Johnson cũng buộc phải nói với ông ta rằng "Những gì Westmoreland đang cố gắng làm ở Việt Nam đều không thể thực hiện được nếu không sử dụng vào đó các nguồn kinh tế và quân sự hoàn toàn không hạn chế" nhưng cho đến lúc đó "không có mối liên quan giữa một bên là các mục tiêu quân sự và một bên kia là thời gian và tài nguyên mà Mỹ có để thực hiện các mục tiêu đó. Cuộc tiến công Tết cho thấy số 50 vạn quân Mỹ là vô cùng thiếu, không thể nào đánh đuổi và khuất phục nổi Việt cộng". Tổng thống Mỹ Johnson đã nói với một người thân cận rằng: nếu chính phủ Mỹ không lấy được lòng Walter Cronkite thì chính phủ sẽ không có được sự đồng tình của dân chúng Mỹ.

    "Những nhà thông thái" - nhóm cố vấn cấp cao của tổng thống - ngày 26/3/1968 cũng đưa ra lời cảnh báo "Mỹ không còn có thể làm được cái công việc mà Mỹ đã khởi sự ba năm trước đây" và "Mỹ buộc phải bắt đầu có biện pháp rút lui". Bộ trưởng Quốc phòng R.Mc. Namara từ chức ngày 29/2/1968. Người thay thế ông là Clark Clifford cũng là người đầu tiên trong nhóm cố vấn cho Johnson tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam "như một cái thùng không đáy" và dù Mỹ có gửi bao nhiêu quân sang đó đối phương vẫn có thể đáp trả. Sự thay đổi quan điểm của hầu hết những người am hiểu cuộc chiến tranh sau Tết đã làm Johnson "dao động một cách sâu sắc". Đây là đòn cân não cuối cùng khiến ông ta đi đến quyết định quan trọng ngày 31/3/1968, Johnson tuyên bố trên truyền hình: “Chấm dứt thời kỳ Mỹ cam kết tăng cường đưa quân vào cuộc chiến trên bộ ở Việt Nam; ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; Sẵn sàng đàm phán với Hà Nội. Cuối cùng ông Johnson tuyên bố "sẽ không ra ứng cử và không chấp nhận đề cử của đảng tôi làm ứng cử viên thêm một nhiệm kỳ tổng thống nữa". 

    Lời tuyên bố này đã làm ngạc nhiên nhiều người Mỹ. Đối với họ, như vậy là "phe diều hâu đã chết". Đây cũng là dấu chấm hết cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" với chiến thuật "tìm và diệt" của quân Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược Phi Mỹ hóa chiến tranh rồi sau đó là Việt Nam hóa chiến tranh, thay chiến thuật "tìm và diệt" bằng chiến thuật "quét và giữ". Quốc hội Mỹ không chấp nhận tăng quân như đề nghị của tướng Westmoreland mà yêu cầu cải thiện khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn để có thể thay thế quân Mỹ trên chiến trường, từng bước rút quân Mỹ khỏi chiến trường Việt Nam.

 

 

 

 

Những phóng viên Mỹ không đứng ngoài cuộc bởi những hành động man rợ của binh lính Mỹ

 

    Tết Mậu Thân 1968 là một sự kiện có tính bước ngoặt, một bước ngoặt lớn không chỉ trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, mà trong cả lịch sử chiến tranh Việt Nam của Mỹ và cả lịch sử thế giới hiện đại. Và truyền thông Mỹ đã truyền thông điệp đến công chúng Mỹ hiểu rằng, đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa và sớm phải chấm dứt chiến tranh.

    Chiến thắng bước đầu của Việt Nam trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm lung lay ý chí của người Mỹ. Họ buộc phải từ bỏ chiến tranh và thế giới công nhận điều đó. Đối với truyền thông Mỹ họ cũng đã làm truyền thông điệp đúng với bản chất của cuộc chiến. Neil Sheehan - nhà báo Mỹ, một trong những người phanh phui Tài liệu mật Lầu Năm Góc ra trước công luận đã nhận định rằng: “Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”. 

 

 

 

 

Phóng viên Mỹ đã đến chiến trường Việt Nam phản ánh bản chất của cuộc chiến

 

    Và, cũng sau sự kiện tết Mậu Thân 1968 thì mối quan hệ giữa Quân đội và truyền thông Mỹ đã thay đổi hoàn toàn. Truyền thông Mỹ không được tham gia chiến sự. Nếu có thì chỉ ở các đơn vị gián tiếp và phải có sự kiểm duyệt chặt chẽ về thông tin. Sau chiến tranh Việt Nam, các cuộc chiến ở Trung Mỹ (1981 – 1985), Panama (1990), chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 1… thì báo chí không được phép có mặt tại chiến trường. Quân đội Mỹ kiểm soát chặt chẽ hoạt động của truyền thông. Sau này, Mỹ đã đào tạo những người trong quân đội làm báo. Do vậy, thông tin trong quân đội được nhất quán. Theo một chuyên gia quân sự Mỹ thì sự có mặt của truyền thông tại một cuộc chiến là mang tính tất yếu. Quân đội xây dựng mối quan hệ tốt hơn với truyền thông và tạo nên sức mạnh từ truyền thông. 

     Lý giải về “sự kiện” truyền thông về chiến tranh Việt Nam, Tướng Robert Scales – Nguyên Giám đốc trường quân sự Mỹ cho rằng: lúc bấy giờ Quân đội Mỹ đã lên án truyền thông vì đã chèo kéo, câu khách, đưa tin giật gân để lôi kéo công chúng. Báo chí đã tự do hoạt động quá mức. Truyền thông Mỹ đã “phản bội” lại chính phủ. Tuy nhiên nhìn lại cục diện chiến sự Mỹ lúc bấy giờ thì chính phủ Mỹ đã không kiểm soát được truyền thông, nhưng sâu xa là chính phủ không theo kịp cuộc chiến. Tất cả chính phủ Mỹ đã sai lầm, không tính toán được sức mạnh và ý chí của sức mạnh Việt Nam và lý tưởng “không có quý hơn độc lập tự do” mà cả dân tộc Viêt Nam quyết tâm để có được. Nhưng đối với đất nước dân chủ như Mỹ thì việc thông tin chân thực là nghĩa vụ của truyền thông. Tự thân người dân Mỹ không muốn tham gia cuộc chiến.

    Nhìn lại lịch sử, chính phủ, quân đội Mỹ lên án truyền thông Mỹ vì thông tin không “phục vụ” chiến sự. Nhưng ngay cả những người tham gia chiến sự tại Việt Nam không biết được những gì đang diễn ra đối với sức mạnh quân sự Mỹ và sức mạnh dân tộc, khát vọng hòa bình của đất nước Việt Nam, do vậy sự thật luôn là sự thật. Những người làm báo Mỹ không đứng ngoài cuộc của cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn sát dân thường, sự thương vong của binh lính Mỹ trên chiến trường. Họ đã vượt qua ý thức hệ chính trị để truyền thông dưới con mắt của Con Người đối với  Con Người.

     Thiết nghĩ, nếu chính phủ Mỹ không có những việc làm sai trái thì chắc hẳn truyền thông Mỹ không “phản bội” như vậy. Đó không phải là sự bất lực của chính phủ khi không kiểm soát được truyền thông Mỹ mà chính là sự bất lực từ cục diện chiến trường tại miền Nam Việt Nam. Nhiều nhà báo Mỹ đã đạt giải từ những hình ảnh, thước phim từ cuộc chiến Việt Nam, tuy họ phản ánh đúng sự thật, để Mỹ không tiếp tục “sa lầy” nhưng tự thân họ vẫn thấy sự “mắc lỗi” đối với Chính phủ - bởi họ là công dân của nước Mỹ… 

 

 

Xuân Lý (Tổng hợp và biên tập)
Tags:
Tin mới hơn
Người dân cần biết
  • Thanh tra: 069.29 28 111
  • CSGT: 069.29 28 299
  • Trực ban: 069.29 26 112
  • Trực ban hình sự: 069.29 28 312
  • Phòng quản lý XNC: 069.29 28 672
Thống kê
Tổng số lượt truy cập: 19547860