Phổ biến giáo dục pháp luật

Những quy định về quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

27/06/2018 04:34

Theo quy định của pháp luật, người bị tạm giữ, người bị tạm giam chưa được xem là có tội, chỉ khi nào có bản án của Tòa án và bản án có hiệu lực pháp luật thì khi đó họ mới được xem là có tội. Do đó, trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam họ phải được đảm bảo các quy định về quyền con người, quyền cơ bản của công dân, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Điểm nhấn chủ đạo của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 chính là việc quyền của người đang bị tạm giữ, tạm giam đã được quy định đầy đủ và phù hợp hơn. Đây không chỉ là những quy định mới có tính chất nhân văn mà còn là một điểm sáng trong việc kế thừa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc đề cao quyền con người, quyền công dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Trong các văn bản pháp luật trước đây về quy chế tạm giữ, tạm giam chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam. Do vậy, đã nảy sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn thi hành công tác tạm giữ, tạm giam và cũng chưa có cơ sở để bảo đảm tốt hơn quyền của người bị tạm giữ, tạm giam mà họ đáng được hưởng. Để khắc phục những vướng mắc, bất cập đó, căn cứ quy định của Hiến pháp năm 2013 về việc bảo đảm hoặc hạn chế quyền con người, quyền, nghĩa vụ của công dân trong các trường hợp cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, xã hội, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã đưa nội dung này vào phạm vi điều chỉnh của Luật.

 
 

 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã quy định cụ thể về những quyền cơ bản nhất của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cụ thể tại Khoản 1, Điều 9, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định:

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:

1, Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam, giữ;

2, Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;

3, Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dung sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;

4, Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;

5, Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

6, Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;

7, Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;

8, Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;

9, Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;

10, Được hưởng các quyền các của công dân nếu không bị hạn chế bởi luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam”.

Như vậy quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam đã được quy định cụ thể và mở rộng hơn nhiều so với các văn bản trước đây. Trong các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam đáng lưu ý điểm mới đó là quy định được thực hiện quyền bầu cử, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân; quyền được thăm gặp thân nhân; quyền khiếu nại, tố cáo.

- Người bị tạm giữ, người tạm giam được thực hiện quyền bầu cử, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân – đây là quy định mới, chưa từng có trong các quy định trước đây. Theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, người bị tạm giữ, tạm giam được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và HĐND cấp tỉnh nơi họ đang bị tạm giữ, tạm giam là hoàn toàn hợp lý.

- Về quyền được thăm gặp thân nhân của người bị tạm giữ, tạm giam có ý nghĩa rất quan trọng với bản thân và gia đình họ, quyền này được quy định cụ thể hơn tại Điều 22 của Luật này. Theo quy định cũ, người bị tạm giữ, tạm giam chỉ được thăm gặp thân nhân nếu được cơ quan thụ lý vụ án đồng ý. Quy định này dẫn đến nhiều trường hợp không được gặp thân nhân trong quá trình điều tra. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã thay thế quy định này bằng quy định:

- Người bị tạm giữ được gặp thân nhân 01 lần trong thời gian tạm giữ và 01 lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ, kể cả ngày nghỉ, mỗi lần không quá một giờ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân 01 lần trong một tháng, thời gian gặp trong giờ làm việc, mỗi lần gặp không quá một giờ; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý.

Người đến thăm gặp phải xuất trình một trong các loại giấy tờ tùy thân sau: Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu, thẻ căn cước công dân, giấy xác nhận là cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, người dưới 14 tuổi phải có giấy khai sinh; giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong trường hợp là thân nhân của họ. Trường hợp người đến thăm gặp không có giấy tờ chứng minh quan hệ thì phải có đơn đề nghị, có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan có thẩm quyền; trường hợp người đến thăm gặp không có giấy tờ tùy thân thì đơn đề nghị thăm gặp phải dán ảnh và đóng dấu giáp lai vào ảnh.

Việc gặp phải chịu sự giám sát, theo dõi chặt chẽ của cơ sở giam giữ; không làm ảnh hưởng đến các hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về thăm gặp; trường hợp cơ quan thụ lý vụ án có yêu cầu thì phối hợp với cơ sở giam giữ để giám sát, theo dõi việc thăm gặp.

Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp; thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Các trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam không được gặp thân nhân cũng được quy định rất cụ thể tại Khoản 4, Điều 22 của Luật này. Đáng chú ý là quy định: Thủ trưởng cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam khi cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp thân nhân do thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án.

          - Quyền khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, tạm giam được quy định có trình tự và chặt chẽ hơn. Luật mới quy định riêng một Chương, với 18 điều liên quan tới khiếu nại, tố cáo, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người đang bị tạm giữ, tạm giam. Ngoài ra, so với quy định cũ thì luật mới quy định rất cụ thể về phạm vi, thời hiệu khiếu nại, tố cáo, cũng như thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo.

Có thể thấy, quy định về quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, phù hợp với quy định của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013, góp phần bảo đảm hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta. Đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020./.

Thiếu tá Nguyễn Tiến Trinh - Phó trưởng Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Công an tỉnh Hà Tĩnh.
Tags:
Tin mới hơn
Người dân cần biết
  • Thanh tra: 069.29 28 111
  • CSGT: 069.29 28 299
  • Trực ban: 069.29 26 112
  • Trực ban hình sự: 069.29 28 312
  • Phòng quản lý XNC: 069.29 28 672
Thống kê
Tổng số lượt truy cập: 16528202