Tin hoạt động Ngành

Tháng 7 - Tri ân!

17/07/2019 04:36

Cứ mỗi độ tháng 7 về, mỗi người con đất Việt lại bồi hồi tưởng nhớ những anh hùng liệt sỹ đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Và chúng tôi - những người sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa, được hưởng trọn niềm hạnh phúc trong hòa bình mà các thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu để xây dựng nên - đã tìm về mảnh đất Quảng Trị khói lửa xin được thắp một nén tâm nhang dâng lên hàng vạn chiến sỹ đã trở thành huyền sử giữ nước ở nơi này!

Chúng tôi về Quảng Trị vào một ngày đầu tháng 7/ 2019. Lộ trình của đoàn chúng tôi theo con đường huyền thoại, con đường được làm nên bởi ý chí, khát vọng, tinh thần đoàn kết và niềm tin chiến thắng - đường Trường Sơn với núi rừng trùng trùng, điệp điệp. Chúng tôi vẫn nghe đâu đây vẫn âm vang hào khí của một thời “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước; Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Những dấu tích của cuộc chiến tranh khốc liệt giờ đã được thay bằng những rừng cao su bạt ngàn, những thị trấn, thị tứ được xây dựng với những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi, đầm ấm, yên bình và nổi bật là những gương mặt luôn rạng ngời, ánh lên niềm tin của những con người nơi đây.

Khi đặt chân đến Nghĩa trang Trường Sơn, đứng giữa hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ với khói hương đang hòa trong tiếng gió rì rào của hàng ngàn cây thông, cảm giác đầu tiên mà tất cả chúng tôi đều cảm nhận được là mình thật nhỏ bé trước sự hy sinh mất mát lớn lao của các thế hệ đi trước để có được hòa bình cho đất nước. Ba hồi chuông thỉnh linh hồn các anh hùng liệt sĩ do đồng chí Trưởng đoàn - Thượng tá Phạm Thanh Trâm vang lên hòa vào cùng những vần thơ của giáo sư Vũ Khiêu: 

“Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sỹ

Dạt dào Đông Hải khí anh linh

Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí

Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình”

          Tất cả như nín lặng, chỉ có gió từ cây bồ đề thiêng chuyển mình từng đợt không ngừng. Trong sự tĩnh lặng đó, trong chúng tôi đều cảm nhận được một điều rằng, dường như các anh đã nghe được lời khẩn cầu và đang có mặt ở đây, đang rất rất gần với mỗi chúng tôi. Gạt dòng nước mắt, thắp nén tâm nhang kính cẩn nghiêng mình trước sự hinh sinh to lớn của các anh. Dưới tán cây bồ đề thiêng, chúng tôi được Bác quản trang kể về quá trình xây dựng nghĩa trang, về cây bồ đề thiêng tự mọc và lớn dần theo năm tháng, giờ đây cành lá sum suê, tựa như vòng tay mẹ ôm các anh vào lòng; rồi cả những câu chuyện linh thiêng đêm đêm của các chiến sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn hùng vĩ… Hàng chục ngàn liệt sĩ ở lứa tuổi đôi mươi, các anh đã nằm lại nơi đây trên những quả đồi thôn Bến Tắt. Các anh đến từ mọi miền quê và hội tụ tại dãy Trường Sơn. Quảng Trị với những khát vọng vẫn ấp ủ cùng với những khúc ca bi tráng, khi hy sinh anh dũng cho Tổ quốc. Dâng nén hương thơm mà khóe mắt cay cay, cắm xuống phần mộ của các anh mà bùi ngùi, thương xót. Có những phần mộ đầy đủ tên tuổi, địa chỉ, có những phần mộ chỉ có tên nhưng còn đang  rất nhiều phần mộ mãi mãi là “vô danh”, tên các anh đã hòa vào từng con sông, ngọn núi và hòa vào hai từ Tổ quốc thiêng liêng.

Từ đài tưởng niệm Trung tâm, chúng tôi đi theo con đường nhỏ dẫn đến Khu tưởng niệm các liệt sĩ là những người con của quê hương Hà Tĩnh. Hơn 800 phần mộ đến từ Đức Thọ, Hương Sơn rồi Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên… Các anh đã nằm lại nơi đây trong lòng đất mẹ, trong vòng tay của đồng chí, đồng đội khi tuổi đời chỉ mới đôi mươi. Trong chúng tôi, có những người đã từng đến đây, nhưng cũng có những người đây là lần đầu tiền, tuy vậy ai ai cũng không tránh khỏi bùi ngùi, xúc động.

Trong cái nắng gay gắt của trưa hè tháng 7, trong chúng tôi đều lặng lẽ, chầm chậm bước chân, như muốn nhìn kỹ hơn, ghi nhớ nhiều hơn những cái tên, những dòng địa chỉ của các anh. Và thật linh thiêng, tại đây hôm nay đã có những cuộc gặp gỡ của một số thành viên trong đoàn với những người thân đã anh dũng ngã xuống vì Tổ quốc hiện an nghỉ trong khu nghĩa trang này. Đôi bàn tay nhỏ nhắn nhặt vội những chiếc lá thông đang còn vương trên phần mộ của liệt sĩ Đồng Xuân Vỵ, quê ở xã Thạch Khê, huyện Thạch Hà, đồng chí Trần Thị Thu Hiền nghẹn ngào “Gia đình tôi năm nào cũng vào đây thắp hương, nhưng đây là lần đầu tiên tôi vào thắp hương cho Dượng. Cảm giác như được gặp lại Dượng sau nhiều năm xa cách…”. Khác với đồng chí Hiền, đây là lần thứ 2 đồng chí Trần Thị Quỳnh Trang trở lại thắp hương cho bác của mình, nhưng cũng như lần trước, xúc động, nước mắt nhòe đi trong khói nhang. “Tâm nguyện của Bác là được nằm lại nơi đây với đồng chí, đồng đội. Nơi quê nhà, ở phường Thạch Quý, TP Hà Tĩnh vẫn còn người vợ hiền và 4 người con nay đã trưởng thành”, đồng chí Trang chia sẻ.

Rời Nghĩa trang Trường Sơn, theo đường Hồ Chí Minh rồi qua đường 9 lịch sử chúng tôi đến Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9. Đây là nơi yên nghỉ của hơn 1 vạn anh hùng, liệt sĩ với ba thứ quân: Bộ đội chủ lực (phần lớn là các sư đoàn 308, 304, 312, 968, 324, 320…), bộ đội địa phương, dân quân du kích và thanh niên xung phong đã từng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên mặt trận Đường 9 và ở đất bạn Lào trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong đó hơn 6 nghìn phần mộ chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ. 

“Hồi chuông vị quốc của Nam Bắc

Ngọn lửa anh linh rực đất trời

Muôn dặm từng vang đường Số Chín

Ngàn thu còn mãi tuổi hai mươi”

Tiếng chuông vang lên giữa không gian ngan ngát hương trầm hòa cùng tiếng vỗ cánh của đàn bồ câu vờn bay trên tượng đài các chiến sĩ. Hình ảnh cánh chim bồ câu bay trên nền trời cao xanh vời vợi là biểu tượng và thông điệp cho khát vọng cháy bỏng về hòa bình, độc lập và tự do trên vùng đất lửa Quảng Trị. Sau khi thắp hương tại đài tưởng niệm, chúng tôi đến thắp hương tại khu mộ của các liệt sĩ quê Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh). Dưới nắng vàng, từng hàng mộ trắng đều tăm tắp, trong không gian thinh lặng. Thoảng trong gió mùi hương và mùi hoa đại ngan ngát…

Tiếp bước hành trình, chúng tôi đến Thành cổ Quảng Trị vào một buổi sáng, bầu trời Thành Cổ cao xanh vời vợi. Nơi đây đã từng diễn ra 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt năm 1972 (từ ngày 28/6/1972 đến 16/9/1972) giữa một bên là ta quyết giữ từng tấc đất, còn một bên là Mỹ- ngụy dùng uy lực súng đạn, phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại để quyết chiếm lại Thành Cổ bằng mọi giá. Thành Cổ Quảng Trị được biết đến không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là một nghĩa trang, một nghĩa trang không có những nấm mồ. Khác với nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9 hay các nghĩa trang khác thì liệt sỹ nào có mộ liệt sỹ đó dù biết tên hay chưa biết tên. Nhưng đến với Thành Cổ Quảng Trị các anh chỉ có một ngôi mộ tập thể, một nấm mồ chung. “Đài tưởng niệm trung tâm” là biểu tượng của nấm mồ chung, của ngôi mộ tập thể đó. “Cho tôi hôm nay vào Thành Cổ thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ. Cỏ xanh non tơ, cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình, với người hy sinh cho mảnh đất quê mình…”. Lời bài hát “Cỏ non Thành Cổ” của nhạc sĩ Tân Huyền, làm chúng tôi chợt nhớ đến lời nhắn nhủ của cựu chiến binh Phạm Đình Lân từ Hà Nội về thăm lại chiến trường xưa:

“Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi

Cho đồng đội tôi nằm yên dưới cỏ

Trời Quảng Trị trong xanh và lộng gió

Dẫu ồn ào đừng lay động hàng cây.

…….

Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi

Thành Cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật

Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật

Cho tôi hôm nay đến nghẹn ngào”.

Từng bước chân khẽ nhẹ nhàng bước như không muốn làm các anh đau thêm lần nữa. Sau hàng chuc năm đã đi qua nhưng cho đến hôm nay dưới 16 ha diện tích của Thành Cổ, hài cốt của các chiến sỹ giải phóng quân vẫn nằm dưới đó. Mỗi lớp cỏ non là một vành máu lửa sáng bừng theo năm tháng. Và đến đây chúng tôi được nghe câu chuyện về bức thư thiêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, quê ở Thái Bình, viết ngày 11/9/1972, trước lúc anh hy sinh 3 tháng 20 ngày. Anh là sinh viên năm 4, khoa Cầu hầm, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đang ở những năm tháng rực rỡ của tuổi 20, gác bút nghiên, từ biệt gia đình, anh lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng. Thương nhớ mẹ, anh viết: “ Mẹ kính mến! Lớn lên trong tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to lớn đó của mẹ thì đứa con út của mẹ đã phải đi thăm bố con rồi. Thư này tới tay mẹ chắc mẹ buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau, giọt máu đào hơn ao nước lã, lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống trời ơi hỡi trời. Con rất hiểu đời mẹ đã khổ nhiều, nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song vì đất nước có chiến tranh, thì mẹ ơi hay lau nước mắt cho đời trẻ lâu, sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu, coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ, mẹ đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái bay đi… Thôi mẹ nhé đừng buồn, coi như con đã sống trọn đơi cho Tổ quốc”. Và với người vợ hiền, mới chỉ có vẻn vẹn 6 ngày “kề má tay ấp”  anh dặn: “ Em sẽ đọc bức thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc  sức khỏe đến tất cả những người quen thân thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này. Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh. Nếu thương anh thực sự khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về…”. Qua lời chỉ dẫn trong bức thư, đến năm 2002, vợ anh, chị Đặng Thị Xơ và đồng đội đã tìm thấy phần mộ của anh bên dòng sông Thạch Hãn.

Một chiếc mũ tai bèo, một đôi dép cao su, một bi đông nước, một khẩu súng AK và một chiếu ba lô, hành trang của các anh thật giản dị và thân thương nhưng các anh đã làm nên lịch sử. Nằm soi mình bên dòng Thạch Hãn anh hùng, Thành Cổ hôm nay vẫn uy nghi, vẫn linh thiêng, mỗi nhành cây, ngọn cỏ, mỗi tấc đất nơi đây đã thấm đẫm máu của hàng ngàn chiến sĩ và đồng bào ta. Dòng sông Thạch Hãn xanh trong hiền hòa. Sông vẫn lặng lẽ trôi, ngày đêm dỗ ru trong lòng những linh hồn đã khuất như vòng tay mẹ, vuốt ve, che chở cho những đứa con thơ bé. Những con thuyền vẫn nhẹ nhàng xuôi mái, nhưng vẫn  luôn khắc khoải, nghẹn ngào

“Đò lên Thạch Hãn…ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm…”

 

“Hãy đi đi con ạ. Đến đó một lần để biết. Con sẽ hiểu mình cần phải làm gì và nên sống như thế nào”. Và chúng tôi đã đi, để càng quý trọng hơn những giá trị lịch sử, những hy sinh to lớn của lớp lớp thế hệ cha anh đi trước, để trong mỗi người tự biết mình “cần phải làm gì và sống như thế nào”. Xin được mượn lời của nhà thơ Vương Trọng để thay cho lời Tri ân- tháng 7:

“Không đủ vạn bông hoa

Cắm lên mộ từng người đồng chí

Tôi bước nhẹ bằng đôi chân chiến sĩ

Đến cúi đầu trước mỗi dòng tên”.

Quỳnh Trang - Phòng Tổ chức cán bộ
Tags:
Tin mới hơn
Người dân cần biết
  • Thanh tra: 069.29 28 111
  • CSGT: 069.29 28 299
  • Trực ban: 069.29 26 112
  • Trực ban hình sự: 069.29 28 312
  • Phòng quản lý XNC: 069.29 28 672
Thống kê
Tổng số lượt truy cập: 18983606